79 phim nên xem trước khi chết do anh em Dardenne lựa chọn

Ai mê điện ảnh châu Âu chắc không xa lạ gì hai anh em Dardenne. Một người học về nghệ thuật kịch, một người học về Triết. Có lẽ vì thế những tác phẩm của hai anh em người Bỉ này luôn đầy tính bi, với triết lý về ý nghĩa của sự sống, sự tồn tại, mà điển hình là bộ phim đoạt giải Cảnh Cọ Vàng "Rosetta".

Rosetta là điển hình của thể loại phim bi kịch chứa đầy suy tư, và khủng hoảng trong xã hội hiện đại. Sang đến Two Days One Night là tiếng chim hót hiếm hoi trong sự chật chội của đô thị nơi những con người phải vật lộn mưu sinh mà quên mất làm sao để tận hưởng cuộc sống. Rồi The Kid With A Bikehay The Promise cũng thế. Thông điệp trong phim rất rõ ràng, phong cách làm phim cũng xuyên suốt và có ý đồ trong việc kết nối thành chuỗi nhằm thể hiện thế giới quan của đạo diễn.

79 phim nên xem trước khi chết do anh em Dardenne lựa chọn

Chính vì vậy, mà những phim họ yêu thích sẽ rất đáng cho chúng ta thêm vào danh sách tham khảo những phim cần xem, không chỉ cho người làm nghề, mà còn cho khán giả yêu điện ảnh tìm đến cội nguồn với những giá trị nguyên sơ mà điện ảnh thế giới mang lại trong suốt bao năm qua. Mới đây, trang web Cinetek của Pháp có liệt kê 79 phim phải xem mà hai anh em nhà Dardenne yêu thích.

Tôi liệt kê lại đây cho bạn nào hứng thú tham khảo (danh sách lấy từ Indiewire)

1. “Police,” Maurice Pialat (1984)
2. “Under the Sun of Satan,” Maurice Pialat (1987)
3. “Graduate First,” Maurice Pialat (1978)
4. “Loulou,” Maurice Pialat (1980)
5. “A Woman Under the Influence,” John Cassavetes (1974)
6. “Opening Night,” John Cassavetes (1977)
7. “The Killing of a Chinese Bookie,” John Cassavetes (1976)
8. “Mouchette,” Robert Besson (1966)
9. “Au hasard Balthazar,” Robert Bresson (1965)
10. “A Man Escaped,” Robert Bresson (1956)

11. “Paisa,” Roberto Rossellini (1946)
12. “L’Amore,” Roberto Rossellini (1947)
13. “Germany, Year Zero,” Roberto Rossellini (1947)
14. “Europe 51,” Roberto Rossellini (1951)
15. “Stromboli,” Roberto Rossellini (1949)
16. “The Flowers of St. Francis,” Roberto Rossellini (1950)
17. “Voyage in Italty,” Roberto Rossellini (1953)
18. “Accattone,” Pier Paolo Pasolini (1961)
19. “Ro.Go.Pa.G.,” Jean-Luc Godard, Ugo Gregoretti, Pier Paolo Pasolini, Roberto Rossellini (1963)
20. “The Gospel According to St. Matthew,” Pier Paolo Pasolini (1964)

21. “Filmmaker’s Holiday,” Johan van der Keuken (1974)
22. “The Flat Jungle,” Johan van der Keuken (1978)
23. “Street of Shame,” Kenji Mizoguchi (1956)
24. “Sansho the Bailiff,” Kenji Mizoguchi (1954)
25. “Cruel Story of Youth,” Nagisa Oshima (1960)
26. “Boy,” Nagisa Oshima (1969)
27. “High and Low,” Akira Kurosawa (1963)
28. “Red Beard,” Akira Kurosawa (1965)
29. “To Live,” Akira Kurosawa (1952)
30. “Hands Over the City,” Francesco Rosi (1963)

31. “The Tarnished Angels,” Douglas Sirk (1957)
32. “Sobibór, October 14, 1943, 4 p.m.,” Claude Lanzmann (2000)
33. “Cleo from 5 to 7,” Agnès Varda (1961)
34. “Father and Master,” Paolo et Vittorio Taviani (1976)
35. “The Flavor of Green Tea over Rice,” Yasujirō Ozu (1952)
36. “There Was a Father,” Yasujirō Ozu (1942)
37. “La Strada,” Federico Fellini (1954)

38. “Nights of Cabiria,” Federico Fellini (1957)
39. “Dekalog,” Krzysztof Kieslowski (1989)
40. “Life, and Nothing More….,” Abbas Kiarostami (1991)

41. “Where Is the Friend’s Home?” Abbas Kiarostami (1987)
42. “High Hopes,” Mike Leigh (1988)
43. “Riff-Raff,” Ken Loach (1991)
44. “Northern Lights,” John Hanson and Rob Nilsson (1978)
45. “Naked Hearts,” Édouard Luntz (1966)
46. “The Visitors,” Elia Kazan (1971)
47. “Wanda,” Barbara Loden (1970)
48. “Sunrise,” F.W. Murnau (1927)
49. “M,” Fritz Lang (1931)
50. “The Kid,” Charlie Chaplin (1919)

51. “Modern Times,” Charlie Chaplin (1935)
52. “The Life of Oharu,” Kenji Mizoguchi (1952)
53. “Herman Slobbe/Blind Child 2,” Johan van der Keuken (1966)
54. “The Wild Child,” François Truffaut (1969)
55. “The 400 Blows,” François Truffaut (1958)
56.“Dear Diary,” Nanni Moretti (1993)
57. “Drifting Clouds,” Aki Kaurismäki (1996)
58 “Naked Childhood,” Maurice Pialat (1967)
59. “Through the Olive Trees,” Abbas Kiarostami (1994)
60. “The Band Wagon,” Vincente Minneli (1953)

61.“It’s a Wonderful Life,” Frank Capra (1946)
62. “Taxi Driver,” Martin Scorsese (1975)
63. “Shoah,” Claude Lanzmann (1985)
64.“Le Boucher,” Claude Chabrol (1970)
65. “Gentleman Jim,” Raoul Walsh (1942)
66. “College,” Buster Keaton and James W. Horne (1927)
67. “Summer With Monika,” Ingmar Bergman (1952)
68. “Bring of Life,” Ingmar Bergman (1957)
69. “Interiors,” Woody Allen (1977)
70. “Crimes and Misdemeanors,” Woody Allen (1988)

71. “Pather Panchali,” Satyajit Ray (1955)
72. “My Childhood,” Bill Douglas (1972)
73. “Ce gamin, là,” Renaud Victor (1975)
74. “Shadow of a Doubt,” Alfred Hitchcock (1942)
75. “Kes,” Ken Loach (1969)
76. “Raining Stones,” Ken Loach (1993)
77.“Ivan’s Childhood,” Andrei Tarkovsky (1962)
78. “Rome Open City,” Roberto Rossellini (1945)
79. “The Man From Laramie,” Anthony Mann (1954)

Theo Muzuco

Bài viết liên quan

Bài viết đọc nhiều nhất

Bài viết mới trong ngày

Cuộc chiến "Bản quyền" văn hóa khán đài: Truyền thông Hàn Quốc khẳng định thói quen dọn rác của CĐV Nhật Bản bắt nguồn từ nước mình?

Cuộc chiến "Bản quyền" văn hóa khán đài: Truyền thông Hàn Quốc khẳng định thói quen dọn rác của CĐV Nhật Bản bắt nguồn từ nước mình?

hoanlagvn

Màn tranh luận mang tính "nhận vơ" đầy thú vị này vừa được đăng tải rộng rãi trên cổng thông tin điện tử hàng đầu Hàn Quốc Daum, ngay lập tức châm ngòi cho một cuộc bàn tán xôn xao trên các diễn đàn bóng đá châu Á, biến câu chuyện dọn rác thông thường thành một chương sử hoài niệm đầy kịch tính.

Giải trí
Netflix thay đổi cách đăng nhập: Mỗi hồ sơ sẽ cần email riêng, siết chặt chia sẻ tài khoản

Netflix thay đổi cách đăng nhập: Mỗi hồ sơ sẽ cần email riêng, siết chặt chia sẻ tài khoản

quân

Có thể thấy Netflix đang từng bước thay đổi cách vận hành hệ thống tài khoản. Nếu trước đây hồ sơ chỉ đơn thuần là không gian lưu lịch sử xem của từng thành viên, thì nay mỗi profile đang trở thành một thực thể gần như độc lập với email, thông tin đăng nhập và cài đặt riêng.

Công Nghệ
JBL QUANTUM SERIES: TÁI ĐỊNH NGHĨA TAI NGHE GAMING THẾ HỆ MỚI VỚI NHIỀU NÂNG CẤP VƯỢT TRỘI

JBL QUANTUM SERIES: TÁI ĐỊNH NGHĨA TAI NGHE GAMING THẾ HỆ MỚI VỚI NHIỀU NÂNG CẤP VƯỢT TRỘI

Khoa Nguyen

JBL chính thức ra mắt bộ sưu tập tai nghe gaming mới gồm JBL Quantum 950, JBL Quantum 650 và JBL Quantum 250 tại thị trường Việt Nam. Được thiết kế dành riêng cho game thủ ở nhiều cấp độ khác nhau, bộ ba sản phẩm mới mang đến sự kết hợp giữa công nghệ âm thanh gaming tiên tiến, thiết kế hiện đại cùng trải nghiệm đeo thoải mái hơn cho những phiên gaming kéo dài.

Công Nghệ
Lên đầu trang